Dẫn nhập
Công đồng Vatican II đã mở ra một cách nhìn mới về các nền văn hóa khi khẳng định rằng trong truyền thống của mọi dân tộc luôn ẩn chứa những hạt giống của Lời Thiên Chúa âm thầm hoạt động. Tuyên ngôn Nostra Aetate nhấn mạnh rằng trong những khát vọng thiêng liêng và những tìm kiếm của nhân loại luôn thấp thoáng “tia sáng của Chân Lý”.[1] Đồng thời, Hiến chế Gaudium et Spes mời gọi Giáo Hội phân định và trân trọng những giá trị tinh thần nơi các nền văn hóa như một phần của gia sản chung.[2]
Việc đọc lại kho tàng văn hóa của chính cộng đồng mình vì thế không chỉ là thao tác học thuật nhưng còn là lời đáp lại tiếng gọi của Công đồng. Những trực giác về Yàng, những quan niệm về hơi thở Thần linh và những văn vần mô tả nguồn gốc vũ trụ đã cho thấy cha ông từng thao thức về mầu nhiệm hiện hữu và nhận ra một nguyên lý tối cao điều khiển mọi trật tự. Nhờ đó, văn hóa Kòn Cau trở thành mảnh đất màu mỡ nơi Thần Khí gieo những trực giác sơ khai về Thiên Chúa. Khi được chiêm ngắm trong ánh sáng đức tin, những trực giác ấy giúp ta thấy rõ hơn hành trình mà tổ tiên đã đi qua.
Chính vì vậy, trong tiến trình đối thoại giữa đức tin Công giáo và văn hóa bản địa, di sản truyền khẩu của Kòn Cau[3] đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa khát vọng tự nhiên của con người và chân lý được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô. Trong số các di sản ấy, văn vần truyền khẩu – đặc biệt là sử thi sáng tạo – là một kho tàng tiêu biểu phản ánh trực giác tôn giáo nguyên sơ của cộng đồng.
I. Sử thi sáng tạo: tiếng nói nguyên sơ về khởi nguyên
Trong ký ức Kòn Cau, vũ trụ khai mở bằng một chuyển động thần linh bất ngờ, được diễn tả trong những lời văn vần cổ xưa:
“Lề klăm tàng klăm-jơngo;
ơm ndo mƀlŏ lik Yàng;
làng mòn trồ, làng mòn kơnhăi;
lik ngăi prău, mòn cau bàr nă;
să mơ bồ ăi ù rơnbuh.”
“Tối tăm nên mù mịt;
ở nơi đây thình lình xuất hiện Thần linh;
để dựng trời, để tạo năm tháng;
tới ngày thứ sáu tạo thành hai người;
dùng đất bụi tạo nên con người.”[4]
Đó là hình ảnh một thời hỗn mang, nơi bóng tối còn dày đặc nhưng “thình lình xuất hiện Thần linh”. Yàng – Đấng không ai biết từ đâu mà đến – xuất hiện như một nguyên lý khởi thủy, thiết lập trật tự thời gian và hình thành con người từ bụi đất.
Những câu văn vần tiếp theo mở rộng nền vũ trụ:
“Trồ pah gen tàng tiah pah gời;
Yàng pà bơnời tàng bời tiah ne.”
“Trời trống rỗng nên đất trống rỗng;
Thần ban dấu vết nên liền đất đai.”
Yàng chạm vào đất trời, sắp đặt nền móng cho thế giới:
“Ù jă bơh ndo, blơdờt tơ ne;
jă tơ do, pờt lờng tơ ne;
jă tơ do, pờng bồ tơ ne.”
“Đạp đất nơi đây, bập bềnh nơi kia;
đạp ở đây, hụt hẫng nơi kia;
đạp ở đây, trúng đầu nơi kia.”
Đất trời như được đo, được đặt, được neo lại. Công trình ấy tiếp tục:
“Crơngơs tam tiah ròc ròc;
cròng ròc tăm tiah răng răng;
kăng dơm dra tăm tiah rơng rơng.”
“Đặt đà bên dưới thẳng răng;
xếp đa ngang bên dưới đều đặn;
trải đà rầm bên dưới chắc chắn.”
Đó là hình ảnh về một Yàng kiến tạo – vừa quyền năng vừa gần gũi – dựng xây thế giới bằng bàn tay và nhịp thở của mình.
Sử thi cũng nói đến sự xuất hiện của con người:
“Bơh sềm teh lơời;
bơh ngai Yàng bơnơi mòn ù;
ntìng tơkăh neh gơs cau ùr;
ù klăc răm-lăm tăm cau bàr nă.”
“Từ chim tổ thượng cổ nghèo nàn;
từ ngày Thần linh nắn nặn đất để lại;
xương sườn cụt đã thành người nữ;
đất nặn đồng đều nơi con người cả hai.”[5]
Con người không tự sinh ra nhưng được nắn lên từ đất dưới bàn tay Thần linh, và trong một diễn ngữ đầy chất thơ, xương sườn cụt trở thành người nữ, đất nặn đồng đều nên đôi bạn đầu tiên.
Các văn vần khác còn kể rõ công trình tạo dựng:
“Ù kơnềt Yàng neh mòn răc;
ù kơnăc Yàng neh mòn klàng;
ù kơnàng Yàng neh mòn bơnŭs;
ù bơtŭs Yàng neh mòn phăn jơi;
chi che gle ñhơt Yàng tơñă;
să bồ rào gŏh bơh Mhàm Ndu.”
“Đất thịt thì Thần linh đã nặn ra chim sẻ;
đất thó thì Thần linh đã nặn ra quạ cắt;
đất sét thì Thần linh đã nặn ra con người;
đất còn lại Thần linh đã nặn ra các loài khác;
cây cối cỏ rả thì Thần linh đã cho mọc lên;
thân thể rửa nhẵn do sự sống Thần Ndu.”[6]
Công trình của Yàng còn đi vào thân phận mỗi người:
“Yàng dê tờm sơnđăn añ bơh lài;
Yàng dê tờm tơmài añ bơh yau;
(…) Yàng neh tàm bơh tăm ndul mơ añ.”
“Chính Thần linh đã gọi tên tôi từ trước;
chính Ngài trui rèn tôi từ xưa;
(…) Thần Linh đã linh tôi từ trong trứng mẹ.”[7]
Không chỉ tạo dựng, Yàng còn ban muôn vật làm của nuôi sống:
“Chi nggar che bơh me tơ klăc;
răc kòn sềm bơh me tơ klàng;
rơpu tam wàng bơh Yàng bơđơn;
blơn mơ prền bơh Yàng dê jào; (…).”
“Hạt giống cây cối giây nhợ mẹ nó là cội dây;
các loài chim chóc mẹ nó là quạ ó;
bầy trâu trong chuồng, do Thần linh ban tặng;
cà chua, cà pháo, do Thần linh trao ban; (…).”[8]
Những văn vần này không chỉ mô tả thế giới mà còn gợi lên một trực giác tôn giáo sâu sắc: vũ trụ không phải là ngẫu nhiên nhưng có một “bàn tay” đặt vào; con người không phải là hữu thể bị bỏ rơi nhưng được biết, được gọi và được dẫn dắt.
II. Trực giác về Yàng: Gương mặt Thần linh trong niềm tin cổ truyền
Sử thi sáng tạo chỉ là điểm khởi đầu. Những văn vần khác tiếp tục phác họa gương mặt của Yàng qua nhiều phương diện. Trước hết, Yàng là Đấng tự hữu. Câu truyền khẩu nổi tiếng “ơm ndo mƀlŏ lik Yàng” – “ở nơi đây thình lình xuất hiện Thần linh” – là lời khẳng định rằng sự hiện diện thần linh tuyệt đối không lệ thuộc vào bất cứ khởi nguyên nào. Yàng chỉ đơn giản là “có đó” vượt khỏi sự đặt vấn đề của con người.
Tiếp đến, Yàng là Đấng tạo dựng mọi sự. Các câu “Ù kơnềt Yàng…” không chỉ liệt kê các loài sinh vật nhưng còn nhấn mạnh mối tương liên giữa con người và vũ trụ: tất cả đều là thụ tạo mang dấu chạm của Thần linh. Nơi con người, trực giác về Yàng lại càng sâu sắc: Người biết tên từng người, dõi theo sự hình thành của họ, và hiện diện như nguyên lý sống trong tận cùng nội tâm. Điều đó cho thấy niềm tin vào một Thần linh không xa cách nhưng gần gũi, thấu hiểu và đồng hành.
Khi hát “Yàng rềp Yàng ngài; Yàng sơrklăc Yàng pơdiơng; Yàng tơ̆ măt jăt sền.” – “Thần gần, Thần xa; Thần nắn nặn, Thần tạo dựng; Thần đưa mắt nhìn theo”, người Kòn Cau diễn tả những điều bí nhiệm vô cùng đơn sơ nhưng đỗi sâu sắc: Yàng vừa gần vừa xa, vừa là Đấng tạo dựng vừa là Đấng thấu suốt lòng người.
Bên cạnh Yàng, truyền thống còn nói đến Brăh Yàng, Thần khí vô hình vô chất, chỉ hiện diện khi được gọi mời. Cách hiểu này cho thấy người xưa phân biệt rất rõ giữa khí lành và khí dữ, giữa Thần khí mang sự sống và luồng khí đưa đến tai ương.
Trong thiên nhiên và mọi biểu hiện của đời sống, người Kòn Cau thấy dấu vết của Yàng: núi rừng, sông suối, mặt trời, cây cối đều mang một phẩm tính thiêng. Lời khấn trên dãy núi Săr Luk: “Ơ Yàng hi hòi sa rơpu…” – “Hỡi Thần linh, này chúng tôi tế trâu” cho thấy Yàng vừa gần như người khách được mời uống rượu cần, vừa uy nghi như Đấng nhận lễ tế trâu. Phân định giữa Yàng Dà – Thần sông hiền lành – và những thế lực dữ nơi nước sâu cho thấy trực giác hướng về siêu nhiên của cộng đồng: Yàng gắn liền với sự lành, sự bảo trợ và sự sống.
Trong các nghi lễ hiến tế, con vật như trâu, dê, vịt được gọi bằng tên Yàng (Yàng R’Pu, Yàng Bê, Yàng Ăt) vì từ khi được tuyển chọn, chúng thuộc về Thần linh. Nhưng người Kòn Cau không bao giờ đồng hóa thụ tạo với Thần: đây là phân định quan trọng giúp họ tránh rơi vào hình thức thờ vật tổ.
Cuối cùng, những chuyện kể về Yàng phán xử, thưởng công và sửa phạt nói lên rằng trật tự vũ trụ gắn liền với trật tự đạo đức. Khi con người kiêu ngạo, vũ trụ đảo lộn; khi con người biết kính sợ, mọi sự trở lại bình thường. Tất cả những điều này kết lại trong lời khấn cổ:
“Hwăc Brăh lĭh Yàng; bàng ding ting săp; lăp bơr dơl đơ̆s.”
“Hô Linh – Gọi Thần; chặt ống – nhắn tiếng; kết lời – giúp nói.”
Con người mượn tiếng văn vần để chạm đến Đấng vượt mọi lời nhưng lại rất gần.
Khi nhận ra những giá trị nội tại của truyền thống và nắm bắt rõ chân lý của đức tin, chúng ta dễ dàng thấy điểm giao thoa sống động giữa văn hóa cổ truyền Kòn Cau và đức tin Kitô giáo. Trong môi trường giáo dục mang dấu ấn vô thần, văn hóa thường bị giới hạn trong khung nhìn của văn học – nghệ thuật, khiến người ta quên mất chiều kích cốt lõi rằng con người là hữu thể có tôn giáo,[9] và chính chiều kích ấy mới là trung tâm của mọi giá trị văn hóa. Vì thế, việc tái khám phá kho tàng truyền khẩu, đặc biệt là trực giác về Yàng và Brăh Yàng, giúp phục hồi chiều kích thiêng liêng đã bị lu mờ và mở ra cơ hội đón nhận đức tin cách chân thật hơn.
Kết luận
Văn hóa được coi là yếu tố thiết yếu để con người đạt đến nhân tính trọn vẹn.[10] Khi ánh sáng Tin Mừng soi chiếu vào các giá trị truyền thống, văn hóa không bị xóa bỏ, nhưng được thanh luyện và nâng cao theo ý định của Thiên Chúa.[11] Những trực giác tôn giáo về Yàng – Đấng sáng tạo, chúa tể và thần linh luôn đồng hành – trở thành chiếc cầu nối giúp người Kòn Cau dễ dàng tiếp cận mạc khải Kitô giáo, còn quan niệm về Brăh Yàng giúp họ cảm thấu hoạt động của Chúa Thánh Thần.
Nhờ đó, giáo lý không còn xa lạ, nhưng được đón nhận như sự hoàn tất của những thao thức thiêng liêng mà tổ tiên đã gìn giữ qua bao thế hệ. Như Lumen Gentium khẳng định, Thiên Chúa đã chuẩn bị tâm hồn các dân tộc qua chính văn hóa của họ để đón lấy Tin Mừng.[12]
Chính tại điểm gặp gỡ ấy, văn hóa và đức tin soi sáng cho nhau và cùng góp phần làm rạng ngời công trình cứu độ của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại. Đây là điều khẩn thiết mà Giáo hội không ngừng nhắc nhớ cho mọi tín hữu, cách riêng những người được mời gọi loan báo Tin Mừng cho muôn dân.
Thật vậy, Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy rằng:
“Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã muốn cho mọi dân tộc nhận biết Ngài và được cứu độ. Vì thế, trong lòng các dân tộc, Ngài đã gieo sẵn những hạt giống Lời và chuẩn bị tâm hồn họ đón nhận mạc khải trọn vẹn nơi Đức Kitô”.[13] Đồng thời, Giáo hội khẳng định rằng mọi người nam nữ, dù ở trong tình trạng nào, đều mang trong mình phẩm giá bất khả xâm phạm, đều là đối tượng của tình thương cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, và đều được mời gọi đi vào trong sự hiệp thông duy nhất của Dân Thiên Chúa.[14]
Vì thế, người tín hữu được kêu gọi nhận ra rằng Chúa Kitô đang âm thầm hoạt động trong các nền văn hóa, trong những thao thức thiêng liêng và những giá trị chân thiện mỹ của các dân tộc. Nhiệm vụ của chúng ta là “đi tới mọi dân tộc”, không phải để áp đặt, nhưng để đồng hành, thanh luyện và nâng cao những gì đã được Thần Khí Thiên Chúa gieo vãi từ muôn thuở, để cuối cùng “mọi sự quy về Đức Kitô”[15] và “Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự” (1 Cr 15,28).
Như vậy, cuộc gặp gỡ giữa đức tin Kitô giáo và văn hóa Kòn Cau không chỉ là một chọn lựa mục vụ, mà là một đòi hỏi sâu xa của chính mầu nhiệm cứu độ: để Lời đã làm người trong một nền văn hóa cụ thể ngày xưa tại Palestina, nay tiếp tục nhập thể và mặc lấy những hình dạng mới trong từng nền văn hóa hôm nay, hầu ơn cứu độ của Đức Kitô thực sự trở thành gia nghiệp của muôn dân.
Chú thích (Endnotes)
[1] x. Công đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2.
[2] x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 58.
[3] “Kòn Cau” là tên tự định danh của cộng đồng ngữ hệ Môn-Khmer Nam Tây Nguyên. Trong bài viết này, tên gọi này dùng cho người Mạ và K’Ho: Hai cộng đồng này vốn có chung một nguồn gốc, đồng sở đắc một nền văn hóa và nói cùng một ngôn ngữ. Sự khác biệt trong văn hóa Mạ (phụ hệ) và K’Ho (mẫu hệ) là do tiến trình lịch sử chịu ảnh hưởng của Champa. Hai tộc danh hình thành cũng là một tiến trình dài có sự tác động của ngoại cảnh.
[4] Nguyễn Huy Trọng, Phác họa chân dung Dân tộc Kơ Ho – Vài bài Tình ca Kơ Ho (NXB Đồng Nai, 2018), tr. 283-284.
[5] Nguyễn Huy Trọng, Phác họa chân dung Dân tộc Kơ Ho – Bộ Dân luật (Ñdrĭ ñdring) (NXB Đồng Nai, 2018), tr. 289.
[6] Nguyễn Huy Trọng, Phác họa chân dung Dân tộc Kơ Ho – Đơs Pơnđik (NXB Đồng Nai, 2018), tr. 174-99.
[7] Nguyễn Huy Trọng, Phác họa chân dung Dân tộc Kơ Ho – Niềm tin cơ bản (NXB Đồng Nai, 2018), tr. 308.
[8] Nguyễn Huy Trọng, Luật tục, tr. 290.
[9] x. Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 44.
[10] x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 53.
[11] x. Công đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 22.
[12] x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, số 17.
[13] Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 56.
[14] x. Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 839-845 và 1260.
[15] x. Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 854.
Jơnau Yal Niam Kơnràñ Jesu đơs: ‘‘Añ lah gùng, bơta ngăn mơ bơta kis; ờ geh cau lơi tus mơ Bàp, dilah ờ găn Añ.” Dilah bol kòn neh git Añ, gen bol kòn krung rơp git Bàp Añ; mơ bơh tŭ do, bol kòn git Khai mơ neh gŏ Khai” (Jo 14, 6-7).